Cuộc thi
"Nuclear education in Russia"
THẾ VẬN HỘI

Công nghiệp nguyên tử ở Nga

Ngành công nghiệp hạt nhân của Nga chiếm một trong những  vị trí thuộc đẳng cấp tiên tiến nhất thế giới về các công trình nghiên cứu khoa học-kỹ thuật trong lĩnh vực thiết kế lò phản ứng, nhiên liệu hạt nhân, kinh nghiệm vận hành các nhà máy điện hạt nhân và nhân sự có chuyên môn sâu về điện hạt nhân. Các xí nghiệp của ngành đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm phong phú và độc đáo thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ qui mô tầm cỡ, chẳng hạn như tạo lập nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới (vào năm 1954) và chế xuất nhiên liệu dành cho cơ sở này. Nga sở hữu công nghệ làm giàu uranium hoàn thiện hàng đầu thế giới, còn các đồ án thiết kế nhà máy điện hạt nhân của Nga với lò phản ứng nước áp lực (PWR) đã chứng tỏ độ vững chắc đáng tin cậy trong suốt tiến trình hoạt động không hề có trục trặc.

Ngày nay, ngành công nghiệp hạt nhân của Nga là đội ngũ hùng mạnh với hơn 250 xí nghiệp và tổ chức, sử dụng lực lượng làm việc gồm hơn 190 nghìn người. Trong cơ cấu của ngành bao gồm bốn tổ hợp lớn về khoa học và sản xuất: các xí nghiệp của chu trình nhiên liệu hạt nhân, điện hạt nhân, tổ hợp hạt nhân vũ khí và các viện nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, sau khi doanh nghiệp Nhà nước đơn nhất cấp Liên bang "Atomflot" được kết cấu vào Tập đoàn Quốc gia "Rosatom”, trong ngành  cũng có thể tập hợp cả hạm đội tàu phá băng hùng mạnh nhất thế giới.

Hiện nay, tại Nga đang thi công xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới quy mô lớn. Đang thực thi kiến thiết nhà máy điện hạt nhân Novovoronezh-2, nhà máy điện hạt nhân Leningrad-2, nhà máy điện hạt nhân Baltic, nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên trên thế giới "Viện sĩ Lomonosov". Hiện đang trong giai đoạn xây dựng gần hoàn thành còn có thêm một cơ sở khác là tổ máy thứ tư của nhà máy điện hạt nhân Beloyarsk. Ở nước ngoài, Nga đang giúp xây dựng các nhà máy điện hạt nhân "Kudankulam" (Ấn Độ), "Busher" (Iran), "Akkuyu" (Thổ Nhĩ Kỳ), Ostrovets (Belarus) và bước vào giai đoạn thứ hai công trình kiến thiết nhà máy điện hạt nhân “Tianwan” (Trung Quốc).

Trong điều kiện thế giới hiện đại, năng lượng hạt nhân là một trong những thành tố  quan trọng nhất của nền kinh tế Nga. Sự phát triển năng động của ngành công nghiệp hạt nhân chiếm vị thế một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo tính độc lập về năng lượng của quốc gia và duy trì đà tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của đất nước. Ngành công nghiệp hạt nhân có khả năng đảm nhận vai trò đầu tàu để phát triển những lĩnh vực khác. Công nghiệp hạt nhân  đảm bảo lượng đơn đặt hàng, mà như vậy có nghĩa là đảm bảo cả nguồn dự trữ tài nguyên phát triển các ngành luyện kim, khoa học vật liệu, địa chất, công nghiệp xây dựng và v.v ...

Hiện nay trên địa bàn Nga đang vận hành 10 nhà máy điện hạt nhân (tổng cộng là 33 tổ máy điện hạt nhân với công suất 24,2 GW), đảm bảo sản xuất khoảng 16% tổng sản lượng điện toàn quốc. 

Trong năm 2011, các nhà máy điện hạt nhân của Nga đã sản xuất ra hơn 172 tỷ kWh, đạt được thành quả như vậy là nhờ sự ra đời các cơ sở mới mạnh mẽ cũng như tối ưu hóa các công việc bảo dưỡng sửa chữa, tăng cao năng lực của những tổ máy đang hoạt động, sử dụng hiệu quả công suất qui định và những hoạt động khác.

Độ an toàn và ổn định của các nhà máy điện nguyên tử Nga được công nhận và khẳng định qua kết quả kiểm tra định kỳ của các cơ quan độc lập (như Rostechnadzor), cũng như các tổ chức quốc tế uy tín (như WANO -World Association of Nuclear Operators và các tổ chức khác). Trong vòng 5 năm trở lại đây tại các nhà máy điện nguyên tử Nga ghi nhận không xảy ra bất kỳ một lỗi vi phạm an toàn nghiêm trọng ở cấp lớn hơn 0 (cấp tối thiểu) theo thang tiêu chuẩn quốc tế INES (International Nuclear Event Scale). Về tiêu chí hoạt động ổn định các nhà máy điện nguyên tử Nga xếp thứ 2 trên thế giới trong số các nước có ngành năng lượng nguyên tử phát triển, vượt hơn cả những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh và Đức.  

Độ an toàn cao của các nhà máy điện nguyên tử Nga được đảm bảo bằng nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chính là nguyên tắc tự bảo vệ của lò phản ứng, sự hiện diện của một số hàng rào phòng ngự và các kênh an toàn được bố trí nhân lên nhiều cấp. Đặc biệt các nhà máy ở Nga đều áp dụng các hệ thống an toàn chủ động (có nghĩa là các hệ thống đòi hỏi có sự can thiệp của con người và có nguồn cung cấp năng lượng) và thụ động (không đòi hỏi sự can thiệp của nhân viên vận hành và nguồn năng lượng). Ngoài ra, tại tất cả các công đoạn trong chu kỳ hoạt động của nhà máy đều áp dụng các tiêu chuẩn về văn hóa an toàn: từ khâu lựa chọn vị trí xây dựng nhà máy (bắt buộc phải ở những địa điểm không có các yếu tố cấm), cho đến việc đưa nhà máy vào hoạt động. Phần nhiều chính nhờ kết hợp được những yếu tố này mà kinh nghiệm vận hành ổn định của loại lò phản ứng nước - nước VVER hiện đã đạt con số hơn 1400 năm tuổi thọ lò phản ứng.

Trong các lò phản ứng VVER áp dụng cấu trúc lõi lò phản ứng được thiết kế đảm bảo chức năng "tự bảo vệ" của lò phản ứng hoặc chức năng "tự điều chỉnh" của lò. Khi dòng neutron phát sinh tăng lên, nhiệt độ trong lò cũng gia tăng và hàm lượng hơi nước cũng tăng. Song các lò phản ứng của Nga được thiết kế theo cách riêng để cho bản thân sự gia tăng hàm lượng hơi nước trong lõi lò phản ứng sẽ dẫn đến việc hấp thụ nhanh các neutron và chấm dứt phản ứng dây chuyền. Các chuyên gia gọi hiệu ứng này là "hệ số" phản ứng âm về nhiệt độ cũng như về hơi nước. Như vậy bản thân cấu tạo vật lý của lò phản ứng đã đảm bảo tính tự bảo vệ trên cơ sở những mối liên hệ đảo ngược tự nhiên ("phản ứn âm").

Để có thể ngừng phản ứng dây chuyền nhanh và hiệu quả cần phải "hấp thụ" các neutron được sinh ra. Chất hấp thụ (thường là cacbua borum) được sử dụng cho mục đích này. Các thanh hấp thụ được đưa vào lõi lò phản ứng, dòng neutron bị hấp thu, phản ứng chậm lại rồi ngừng hẳn. Để giúp đưa các thanh hấp thụ vào lõi lò phản ứng trong bất kỳ điều kiện nào, trong các nhà máy điện nguyên tử của Nga người ta treo chúng phía trên lò phản ứng và dùng nam châm điện để giữ chúng tại vị trí. Cấu trúc như vậy đảm bảo các thanh hấp thụ sẽ được hạ xuống ngay cả khi tổ máy bị ngắt điện: các nam châm điện sẽ bị ngắt và thanh hấp thụ rơi xuống lõi lò do tác động của trọng lực (mà không cần bất kỳ lệnh điều khiển bổ sung nào của chuyên viên vận hành). Đây là sự khác biệt trong thiết kế các lò phản ứng của Nga so với thiết kế của Mỹ được sử dụng ở Nhật tại nhà máy điện nguyên tử Fukusima-1 (thiết kế trang thiết bị theo kiểu đưa các thanh hấp thụ vào lõi lò từ dưới lên).

Tại các nhà máy điện nguyên tử của Nga chủ yếu áp dụng kết cấu hai mạch cộng hưởng, theo đó nhiệt lượng có thể được dẫn thẳng ra không khí mà không cần sự tham gia của bất kỳ nguồn cấp nước từ bên ngoài. Về nguyên tắc kết cấu hai mạch có ưu việt là an toàn hơn kết cấu đơn mạch như sử dụng trong nhà máy ở Nhật Bản, bởi vì tất cả môi trường phóng xạ đều nằm gọn trong lòng vỏ bảo vệ kín (containment), còn tại mạch thứ nhất không hề có hơi nước - như vậy hiển nhiên nguy cơ thanh nhiên liệu bị lộ trần không lớp bảo vệ và nóng quá độ, sẽ là thấp hơn. Ngoài ra, các lò phản ứng VVER được trang bị 4 thiết bị lò hơi, hệ thống thải nhiệt được cấu trúc nhiều vòng, tức là trong đó đảm bảo lượng nước dự trữ đáng kể.    

Nếu như cần cấp nước qua các đường ống dự bị, trong nhà máy điện nguyên tử lắp các máy bơm "làm lạnh dự phòng khẩn cấp" riêng (mỗi ống cấp nước có một máy bơm riêng phục vụ). Tại các nhà máy điện nguyên tử sử dụng lò phản ứng nước-nước (VVER) của Nga, theo nguyên tắc đảm bảo khắc phục sự cố cá biệt và sự cố có thể không được phát hiện, người ta bố trí 3 kênh an toàn độc lập, trong đó mỗi kênh đều có thể thực hiện chức năng của toàn bộ hệ thống. Các hệ thống an toàn được trù tính đảm bảo khắc phục sự cố thiết kế tối đa ở cấp độ vỡ đường ống dẫn lưu thông chính của mạch thứ nhất bán kính tối đa. Nước dự trữ cũng được đảm bảo cung cấp nhiều lần: đầu tiên nước sẽ được cấp từ các bể dự trữ đặt ngay trong tổ máy, còn sau đó nếu như lượng nước trong các bể chứa đó vẫn chưa đủ thì nước sẽ bắt đầu được cấp từ 3 bể phụ. Tất cả các máy bơm nước dự trữ đều được cấp điện theo chế độ tự cấp: mỗi máy bơm được cấp điện từ một máy phát điện diezel riêng. Những máy phát này được lắp đặt riêng biệt, không để xảy ra tình trạng tất cả chúng đều hỏng cùng một lúc. Bất kỳ kênh an toàn nào trong số đó (trong trường hợp các kênh còn lại đều ngừng hoạt động) đều đảm bảo có thể dẫn hết nhiệt ra ngoài.

Hoạt động đồng thời của những hệ thống bảo vệ này chỉ cần thiết trong trường hợp xảy ra sự cố ở mức tối đa theo thiết kế. Toàn bộ lượng nước đổ vào lò được tích lại nhờ một hệ thống tích nước và làm lạnh đặc biệt. Hệ thống lại sẽ bơm lượng nước tích được ấy vào lò, có nghĩa là, theo cách nói của các chuyên gia, đảm bảo "chu trình tuần hoàn kín của chất tải nhiệt".

 

Hệ thống an toàn trong các nhà máy điện nguyên tử hiện đại của Nga được cấu trúc từ 4 hàng rào phòng ngự trên đường phát tán các chất bức xạ ion hóa và chất phóng xạ ra ngoài môi trường. Hàng rào phòng ngự thứ nhất - đó là tấm nhiên liệu ngăn không cho sản phẩm tách thoát xuống dưới lớp vỏ phần tử tỏa nhiệt. Hàng rào phòng ngự thứ hai - đó là bản thân lớp vỏ của phần tử tỏa nhiệt, không cho sản phẩm tách rơi vào thiết bị tải nhiệt của mạch tuần hoàn chính. Hàng rào phòng ngự thứ ba - là mạch tuần hoàn chính, ngăn cản không cho các sản phẩm tách lọt xuống phía dưới lớp vỏ bảo vệ kín. Cuối cùng là hàng rào phòng ngự thứ tư - đó là hệ thống các vỏ bảo vệ kín (containment), loại trừ việc các sản phẩm tách thoát ra môi trường. Nếu như có chuyện gì đó xảy ra trong lò phản ứng, thì toàn bộ chất phóng xạ sẽ ở lại bên trong lớp vỏ bảo vệ này.

Tất cả các lò phản ứng hạt nhân của Nga dạng VVER đều có các containment gọi là vỏ bảo vệ lò hạt nhân. Vỏ bảo vệ này được tính toán đảm bảo chịu đựng được mọi tác động, chứ không chỉ tác động từ bên ngoài - thí dụ như bị máy bay đâm vào, bão tuyết, tố lốc hay vụ nổ. Vỏ bảo vệ còn chịu được áp suất bên trong ở mức 5kg/cm2 và sóng tác động bên ngoài tạo nên áp suất 30 kilopascal (kPa), tác động từ máy bay 5 tấn đâm vào. Có nghĩa là nếu giả sử toàn bộ lượng nước cấp cho lò phản ứng đều hóa hơi giống như trong một ấm đun nước khổng lồ hơi sẽ đẩy nắp ra từ bên trong, thì vỏ bảo vệ cũng sẽ chịu đựng được cả áp suất khổng lồ này. Như vậy, mái vòm của nhà máy ở trong trạng thái luôn sẵn sàng tiếp nhận tác động lực từ bên trong. Để đảm bảo khả năng đó vỏ bảo vệ được xây dựng bằng "bê tông dự ứng lực": cáp kim loại căng trong lòng vỏ bê tông tạo thêm cho kết cấu tính liền khối, nhờ đó nâng cao độ bền vững.

Khối lượng vỏ bảo vệ containment khá lớn - 75 nghìn m3, nguy cơ tích tụ khí hydro ở mật độ có thể gây nổ trong đó ít hơn đáng kể so với nhà máy Fukusima-1. Trong trường hợp khẩn cấp, để hạ áp suất hơi nước trong lòng vỏ bảo vệ người ta lắp đặt "hệ thống phun (sprinkler)", từ dưới mái vòm tổ máy sẽ phun hỗn hợp chất borum (boracium, boron - B) và các chất khác để ngăn cản phát tán chất phóng xạ. Cũng trong đó sẽ đặt các thiết bị tái tổ hợp hydro, nhằm không cho chất khí này tích tụ, loại trừ khả năng gây nổ.

Cụ thể, một trong những thành phần của "Hệ thống làm mát lõi lò phản ứng khẩn cấp" (Emergency core cooling system, ECCS) là các bể chuyên dụng chứa axit boric nằm phía trên lò phản ứng. Mỗi bể có dạng bình chứa thành dầy 90mm làm từ thép mạ ghép hai lớp, có đường kính 3175 mm, khối lượng 60 m3, hoạt động được dưới áp suất 60 atmosphere và cao hơn. Trong trường hợp xảy ra sự cố ở mức độ tối đa theo thiết kế - vỡ mạch làm mát thứ nhất của lò - chất chứa trong bể sẽ tự chảy vào trong lõi lò, và phản ứng hạt nhân dây chuyền sẽ bị dập tắt bằng hỗn hợp phần lớn là chất chứa borum có khả năng hấp thụ tốt neutron. Lượng hỗn hợp như vậy đủ để làm mát lõi lò cho đến khi hệ thống làm lạnh khẩn cấp và làm mát bể dưỡng hoạt động.

Nguyên tắc bảo vệ tuyến sâu cũng có cấu trúc an toàn như vậy, sao cho đảm báo có được không chỉ các phương tiện ngăn chặn sự cố, mà còn cả các phương tiện quản lý hậu quả những sự cố ngoài mức thiết kế, đảm bảo cách ly các chất phóng xạ trong buồng kín. Những phương tiện đó bao gồm các hệ thống khử hydro (thông qua tải tổ hợp thụ động); bộ phận bảo vệ mạch thứ nhất không để áp suất tăng; thoát nhiệt qua lò hơi; thoát nhiệt khỏi vỏ bảo vệ và hệ thống cách ly chất nóng chảy (được gọi là phễu gom chất nóng chảy). Thí dụ, hệ thống thoát nhiệt khỏi vỏ bảo vệ đảm bảo thoát nhiệt lâu dài trong bất kỳ hoàn cảnh sự cố nào, kể cả khi nhà máy điện nguyên tử mất điện hoàn toàn. Còn hệ thống cách ly chất nóng chảy có chức năng cách ly, khu biệt chất nóng chảy và loại trừ khả năng chúng thoát ra ngoài phạm vi vỏ bảo vệ kín trong bất kỳ kịch bản sự cố nào. Hệ thống này lần đầu tiên được trang bị cho nhà máy điện nguyên tử Tianwan ở Trung Quốc được xây dựng theo thiết kế của Nga. Hệ thống này cũng dự kiến được trang bị cho dự án mới "AES-2006". Trên thực tế, đó là một nồi nung lạnh được đặt phía dưới lò phản ứng, trong đó diễn ra việc tiếp nhận và phân phối các thành phần cứng và lỏng của lớp đệm (corium). Chức năng của nó là bảo vệ lò phản ứng khỏi tác động cơ nhiệt của lớp đệm, giảm bớt sự thoát hydro và hạt nhân phóng xạ xuống dưới vỏ bảo vệ, đảm bảo đưa nhiệt thoát khỏi lớp đệm ra lớp nước làm mát. Việc bố trí hệ thống cách ly chất tan chảy này cho phép đảm bảo rằng nhiên liệu nóng chảy, sau khi "rơi" vào cốc chịu lửa, sẽ ở trong trạng thái ổn định, có nghĩa là chất nóng chảy sẽ được bảo toàn không dẫn đến sự cố. Ngoài ra, trong phễu gom chất nóng chảy còn có chất được gọi là "chất thế mạng" - đó là hỗn hợp đặc biệt từ oxit sắt và axit boric giúp dập tắt phản ứng một cách tức thời…

Giải pháp kỹ thuật cho các dự án "AES-2006" và VVER-TOI

Sự quy tụ những thảm họa thiên tai có thể gây ra sự cố cho nhà máy điện nguyên tử tương tự như thảm họa Fukusima-1 tại địa điểm xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Nga là không thể xảy ra. Hiện nay tất cả các nhà máy điện nguyên tử của Nga đều đặt tại những vùng ít có nguy cơ động đất. Ở phần lãnh thổ châu Âu của Nga, tại Velikorusskaya Plita là nơi có nền đất vững, động đất hoặc là không xảy ra, hoặc nếu có xảy ra thì chỉ ở cường độ thấp (không quá cấp 5-6 độ Richter).

Việc ngăn chặn sự cố ngừng hoạt dộng và vi phạm các tiêu chuẩn an toàn trong vận hành được đảm bảo nhờ việc lựa chọn địa điểm an toàn để xây dựng nhà máy điện nguyên tử, áp dụng các nguyên tắc bảo thủ trong thiết kế, có hệ thống an toàn chất lượng khi lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng và vận hành, cũng như trình độ văn hóa an toàn. Việc lựa chọn địa điểm an toàn, cụ thể là xác định dự báo tác động địa chấn được thực hiện riêng cho từng địa điểm và từng tổ máy. Thí dụ, trong quá trình nghiên cứu bổ sung tại khu vực có thể xảy ra địa chấn 8-10 độ có thể chọn những địa điểm trong phạm vi vùng 7 độ và có các khối đá granitoit đồng nhất, xa vùng tâm chấn tập trung động đất nhỏ. Khi thực hiện những công việc như vậy để tính toán cần áp dụng mức động đất tối đa xác suất lên tới 1/10.000 (và không quá cấp 8). Việc tính toán tiêu chuẩn tương ứng cho các kết cấu xây dựng, thiết kế đường ống và thiết bị đều thực hiện dựa trên dự báo này. Khi cần thiết thiết bị được trang bị thêm giảm chấn thủy lực. 

Những tiêu chuẩn hiện hành quy định không được phép xây dựng nhà máy điện nguyên tử: tại địa điểm nằm trực tiếp trong vùng địa chất đứt gãy; tại địa điểm có tình trạng địa chấn thường xảy ra động đất tối đa tính toán hơn cấp 9 theo thang MSK; tại vùng cấm xây dựng nhà máy điện nguyên tử theo luật bảo vệ thiên nhiên.

Cuối cùng, việc đảm bảo lực lượng và phương tiện dự phòng tình trạng khẩn cấp và sự cố tại mỗi nhà máy điện nguyên tử sẽ giúp đối phó kịp thời với các sự cố. Những đơn vị này luôn luôn trong tình trạng sẵn sàng và được trang bị phương tiện kỹ thật cần thiết, trong đó có nguồn cấp điện và máy bơm dự phòng. các xe chữa cháy thông thường có thể sử dụng tại bất kỳ tổ máy nào thông qua các ống chuyên dụng tại các khối tổ máy được bố trí theo các hướng khác nhau để tránh xảy ra tình trạng bị hư hỏng đồng loạt. Có các ban chỉ đạo quản lý các tình huống khẩn cấp chuyên trách (thí dụ như Trung tâm sự cố - khủng hoảng của Rosatom và một trung tâm nữa tương tự của công ty "Tập đoàn Rosenergoatom"), thường xuyên lập kế hoạch biện pháp đối phó tình trạng khẩn cấp, duy trì tổ chức các lớp tập huấn. Trong trường hợp cần thiết các Trung tâm chống khủng hoảng như vậy đều cơ động phối hợp với Bộ Các tình trạng khẩn cấp và Bộ Năng lượng của LB Nga. Cuối cùng, còn bố trí những nơi trú ẩn và phương tiện bảo vệ dành cho các nhân viên tại khuôn viên mỗi nhà máy điện nguyên tử. 

Về phương diện bảo vệ chống khủng bố, tất cả các nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại Nga đều được lực lượng thuộc Bộ Nội vụ bảo vệ, các lực lượng này được trang bị vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật cần thiết. Hệ thống canh phòng được xây dựng và bố trí theo cách nhằm đảm bảo bắt giữ bất kỳ kẻ khủng bố hay vi phạm nào ngay từ vòng bảo vệ bên ngoài. Không thể xảy ra việc chuyên chở những hàng cấm (vũ khí, đạn dược) vào khu vực nhà máy điện nguyên tử, tại tất cả các chốt gác đều có thiết bị phát hiện và màn hình quan sát. Như vậy ít có khả năng xảy ra như những hành vi vi phạm pháp luật có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống người dân.

Sau sự cố tại cơ sở Chernobyl, ở tất cả các nhà máy điện nguyên tử của Nga đều tiến hành điều tra nghiên cứu bổ sung về những tình huống sự cố tiềm ẩn có thể xảy ra và phương hướng khắc phục. Ông A.Lokshin, Phó Tổng Giám đốc Rosatom cho biết: "Sau sự cố Chernobyl chúng tôi đã thay đổi nguyên tắc vật lý lò phản ứng, xiết chặt kiểm tra kiểm soát và tối thiểu hóa vai trò của nhân tố con người trong tình huống bất thường khủng hoảng". Tại tất cả các nhà máy, không loại trừ  một cơ sở nào, đều tiến hành qui trình hiện đại hóa hệ thống an toàn. Nơi nào không thể thực hiện nâng cấp cải tiến thì cho ngừng các lò phản ứng cũ, hiện nay đang hoàn tất các khâu để các lò đó dừng vận hành (thí dụ nhà máy điện nguyên tử Beloyarskaya, Novovoronezhskaya). Kết quả là ở Nga tại tất cả các nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động có một số hệ thống khởi động lần lượt trong trường hợp mất điện, hoàn toàn loại trừ khả năng xảy ra sự cố như ở Nhật Bản.

Cuối cùng, tại tất cả các nhà máy điện nguyên tử ở Nga đều lắp đặt hệ thống kiểm soát hiện trạng phóng xạ (ASKRO). Trong chế độ thời gian thực tế, hệ thống này bao gồm các thiết bị cảm ứng ghi nhận mức phóng xạ xung quanh các hạng mục có nguy cơ. Việc thông báo kết quả hoạt động của các thiết bị này được phản ảnh liên tục trên một website riêng là http://www.russianatom.ru/.

Nếu xét mức độ an toàn của các nhà máy điện nguyên tử được phép gia hạn hoạt động, thì bất kỳ sự gia hạn nào đều là kết quả của công tác kiểm tra tổng hợp, quy mô về tình trạng tất cả các hệ thống và vật liệu kết cấu. Khi gia hạn người ta chú ý đến tuổi thọ của thiết bị, có sự khẳng định của các nhà thiết kế có trách nhiệm cam kết đảm bảo an toàn cho công trình có thể hoạt động quá thời hạn thiết kế. Chỉ khi có những điều kiện bảo hành như vậy mới quyết định cho phép gia hạn vận hành. 

Tại tất cả các tổ máy điện hạt nhân sử dụng loại lò phản ứng RBMK-1000. BN-1000. EGP-6 đã có giấy phép gia hạn hoạt động của Cơ quan giám sát kỹ thuật Nga (Rostechnadzor) đều tiến hành hiện đại hóa quy mô lớn và thay thế thiết bị, hệ thống đảm bảo đáp ứng cấp yêu cầu hiện đại đối với tình trạng an toàn của các nhà máy điện nguyên tử. Cụ thể những phân tích dự đoán an toàn cho việc nâng công suất được thực hiện khi chuẩn bị tài liệu luận chứng cho thấy việc nâng công suất các tổ máy RBMK-1000 lên tới mức 105% đều không ảnh hưởng tới mức độ an toàn. Hiện nay các tổ máy 1 và 2 của nhà máy điện nguyên tử  Kurskaya đã nhận được giấy phép của Rostechnadzor và đang chạy thử nghiệm công nghiệp ở mức công suất 105% so với thiết kế.

Tuy nhiên cũng như ở bất cứ cơ sở nào trên thế giới, chúng ta không thể gia hạn cho nhà máy hoạt động mãi bởi còn yếu tố tự nhiên là lão hóa nguyên vật liệu, ngoài ra phải tính đến trở ngại khách quan là không thể lắp đặt một số hệ thống an toàn mới tại các lò phản ứng cũ. Chính vì vậy cần đặt ra vấn đề xây dựng các lò phản ứng mới. Tại các tổ máy xây dựng mới trị giá chung của các hệ thống an toàn ngăn ngừa tác động phóng xạ tới dân chúng và môi trường trong những điều kiện kém thuận lợi nhất (bị máy bay hạng nặng rơi trúng, động đất, sóng thần, sang chấn do vụ nổ mạnh), chiếm gần 40% trị giá của tổ máy. Chính các nhà xây dựng nhà máy điện nguyên tử phải gánh chi phí cho những khoản này.

Mục tiêu cuối cùng - đó là bảo đảm trong bất kỳ phương án kịch bản nào cũng không để xảy ra tình huống nguy cơ rò rỉ phóng xạ ra khỏi phạm vi địa bàn nhà máy.Ông Sergey  Kirienko Tổng Giám đốc Tập đoàn Rosatom tuyên bố: "Đó là yêu cầu tuyệt đối với tất cả các nhà máy điện nguyên tử do Nga thiết kế, được xây dựng không chỉ ở lãnh thổ Nga mà còn ở bất kỳ địa điểm nào trên toàn hành tinh". 

Sau sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukusima-1 các nhà máy điện nguyên tử của Nga đều đưa vào áp dụng những giải pháp kỹ thuật mới. Cụ thể, năm 2011 đã mua các máy phát diezel mới công suất 2MW và nhỏ hơn, bơm tự động. Trên phương diện công nghệ thì số lượng máy phát diezel hiện có tại các nhà máy điện nguyên tử  đã đủ. Để so sánh có thể thấy ở nhà máy Fukusima-1 có 2 máy phát diezel bổ sung, còn tại nhà máy điện nguyên tử Balakovskaya có tới gần 20 máy phát diezel công suất khác nhau phục vụ cho 4 tổ máy.

Việc cung cấp và tổ hợp thiết bị mới trang bị sẽ được thực hiện cho đến cuối tháng 5/2012. Hiện nay các tổ chức liên quan đang tiến hành công tác thiết kế theo những thay đổi về sơ đồ cấu trúc, sơ đồ bố trí thiết bị mới, cũng như đưa vào vận hành những hệ thống quản lý sự cố được trang bị những thiết bị mới trước đây chưa có.

Để thực hiện các biện pháp điều chỉnh nói trên "Tập đoàn Rosenergoatom" năm 2011 đã chi 0,5 tỷ USD, và trong giai đoạn 2012-2013 sẽ chi 0,5 tỷ USD nữa. Đó là thông tin do ông Vladimir Asmolov  Phó Tổng Giám đốc thứ nhất tập đoàn Rosenergoatom công bố tại hội nghị chuyên đề "Tính an toàn, hiệu quả và kinh tế của ngành năng lượng nguyên tử", tổ chức tại Matxcơva ngày 23 tháng Năm vừa qua.

 

 

Các Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân là những cơ sở truyền thông đa năng, có nhiệm vụ cung cấp cho cư dân các thông tin về việc sử dụng năng lượng hạt nhân. Các Trung tâm được khai trương và hoạt động dưới sự bảo trợ của Tập đoàn Quốc gia "Rosatom" tại thủ phủ các khu vực, nơi xây dựng hoặc vận hành các chủ thể thuộc ngành hạt nhân.

Mỗi Trung tâm Thông tin là một nhà hát đa phương tiện hiện đại, kết hợp kỹ thuật toàn cảnh hình nổi 3D, đồ họa máy tính và hình ảnh động, âm thanh stereo, giao tiếp tương tác và màn hình cá nhân. Những công nghệ tiên tiến được sử dụng tạo ra hiệu quả khiến  người xem dường như dấn mình thâm nhập vào khung cảnh ảo.

Sản phẩm cơ sở  của Trung tâm Thông tin là loạt băng hình multimedia truyền thông đa phương tiện dài 45 phút trong thể loại kịch-phim ảo nhan đề "Thế giới năng lượng hạt nhân". Nội dung băng hình được thiết kế tổng hợp linh hoạt và nhắm tới phục vụ cho đối tượng khán giả chưa được đào tạo chuyên môn như các học sinh từ lớp nhỏ đến lớp cuối cấp (tuy nhiên việc thực hiện chương trình cho thấy cũng thu hút sự quan tâm chú ý cả của những khán giả người lớn). Trong kết cấu chương trình còn bao hàm một số khối tương tác-thi đố tìm hiểu. Khâu trao phần thưởng theo kết quả giải đố làm cho quá trình chuyến thăm của các khán giả đến Trung tâm Thông tin càng trở nên thú vị hấp dẫn hơn. 

Để củng cố những kiến thức thu nhận được qua cuộc tham quan ảo ở các Trung tâm cũng phân phát cho khách thăm những tập tài liệu chuyên đề, văn học khai sáng và đồ lưu niệm.

Bên cạnh chương trình cơ bản, còn có cả những chương trình về nghiên cứu thiên văn học, tri thức khoa học tự nhiên và đất nước học bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Ngoài  những buổi chiếu phim thường kỳ, tại các Trung tâm còn tiến hành hàng loạt sự kiện chuyên sâu (hội nghị, seminar hội thảo, triển lãm và v.v...) với sự tham gia của các học sinh, sinh viên, cán bộ nhân viên ngành giáo dục, nhà báo, nhà hoạt động xã hội, đại diện các cơ quan chính quyền và chuyên viên ngành công nghiệp hạt nhân.

Tất cả các buổi chiếu phim và tổ chức sự kiện đều là miễn phí dành cho đại chúng. Các Trung tâm mở cửa 6 ngày trong tuần. Lịch làm việc : Thứ Hai đến thứ Sáu -  từ 9h00 đến 19h00 (dành cho các nhóm đến 36 người theo đăng ký hẹn trước); Thứ Bảy từ 11h00 đến 16h00 (dành cho nhóm và cá nhân khách tham quan không đăng ký hẹn trước).

Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân đầu tiên được thành lập vào tháng 11 năm 2008 ở Tomsk. Tính đến thời điểm hiện tại, ở Nga đã khai trương 16 Trung tâm Thông tin, đón tiếp hơn 280 nghìn người thăm. Bản đồ địa lý về hoạt động của các Trung tâm bao trùm nhiều khu vực của đất nước, từ Petropavlovsk-Kamchatsky đến Kaliningrad, từ Murmansk đến Rostov trên sông Đông (Rostov-on-Don). Trong năm 2011, những Trung tâm mới được mở ra tại sáu thành phố: Krasnoyarsk, Chelyabinsk, Saint Petersburg, Ulyanovsk, Vladimir, Smolensk. Trong năm 2012, mạng lưới các Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân lại thêm một bước mở rộng phạm vi địa lý: ngoài Petropavlovsk-Kamchatsky, đã khai trương Trung tâm ở Saratov cũng như bắt đầu công  việc của những cơ sở đầu tiên ở nước ngoài như Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân tại Hà Nội (Việt Nam) và tại Mersin (Thổ Nhĩ Kỳ). Trong năm 2013, dự kiến sẽ mở các Trung tâm mới tại Ekaterinburg, Minsk (Belarus) và Dhaka (Bangladesh).

Các Trung tâm Thông tin ở Nga:

 

Vladimir (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Vladimir, Đại lộ Oktyabrsky, nhà số 3.

Tel.: +7 (4922) 32-53-83 

E-mail: vladimir@myatom.ru 

    

Voronezh (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Voronezh, Đại lộ Rabochii, nhà số 100

Tel./Fax: (4732) 34 36 33, (4732) 34 36 59

E-mail: vrn@rosatom.info

 

Ekaterinburg (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Thành phố Ekaterinburg, phố  8 tháng Ba, nhà số 62 (tòa nhà thuộc trường Đại học Tổng hợp Kinh tế Ural).

Tel.: (343) 221-27-30

Email: ekb@myatom.ru

 

Kaliningrad (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

236006, Kaliningrad, Đường bờ sông Piotr Đại đế, nhà số 1B (trong khuôn viên Viện Bảo tàng Đại dương Thế giới)

Tel./Fax: (4012) 53-30-17

E-mail: klgd@rosatom.info

 

Krasnoyarsk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

660060, Krasnoyarsk, phố Ada Lebedeva, nhà số 78

Tel.: (913) 518-18-62

E-mail: krasnoyarsk@myatom.ru  

 

Matxcơva (Lớp đào tạo về năng lượng hạt nhân trên cơ sở trường Trung học  №1547)

Matxcơva, Phố Belorechenskaya, nhà số 47, đơn nguyên 1. 

Tel./Fax: (495) 345-29-72

E-mail: info@licey1547.msm.ru

 

Murmansk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Murmansk, Portovyi Proyezd, số 25, Tàu phá băng nguyên tử “Lenin”

Tel.: (8152) 48-05-44

E-mail: murmansk@myatom.ru

 

Nizhnyi Novgorod (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

603005, Nizhnyi Novgorod, phố Semashko, nhà số 7b

Điện thoại: (831) 419-39-19

Tel./Fax:  (831) 436-19-73

E-mail: nnovgorod@myatom.ru

 

Novosibirsk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

630001, Novosibirsk, Phố Dusi Kovalchuk, nhà số 67

Tel./Fax: (383) 225-51-79

E-mail: novosibirsk@myatom.ru

 

Petropavlovsk-Kamchatsky (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Địa chỉ: Petropavlovsk-Kamchatsky, phố Leningradskaya, nhà số 35

Điện thoại: (4152) 300-181; 300-180

E-mail: petropavlovsk@myatom.ru

 

Rostov-on-Don (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

344000, Rostov-on-Don,  Quảng trường Gagarin, số 1 Đại học Tổng hợp Donsky, đơn nguyên 4, tầng 2

Tel./Fax: (863) 273-87-94, (863) 273-85-70

E-mail: rostov@rosatom.info

 

Saint Petersburg (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Saint Petersburg, Đại lộ Zagorodnyi, nhà số 49

Tel./Fax: (812) 710-16-56

E-mail: spb@myatom.ru

 

Saratov (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Thành phố Saratov, phố Moskovskaya, nhà số 164

E-mail: saratov@myatom.ru  

 

Smolensk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

214000, Smolensk, phố Przhevalsky, nhà số 4 (trong khuôn viên trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Smolensk, Khu nhà học № 1)

Tel.: (951) 696-45-28

E-mail: smolensk@myatom.ru

 

Tomsk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Tomsk, Quảng trường Lenin, số 8А

Tel./Fax: (3822) 51-7973

E-mail: tomsk@rosatom.info

 

Ulyanovsk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Ulyanovsk, phố Krymova, nhà số 67

Tel.: (8422) 277-856

E-mail: ulyanovsk@myatom.ru  

Chelyabinsk (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

454091, Chelyabinsk, Đại lộ Sverdlovsky, nhà số 59

Tel.: (912) 406-30-77, (904) 302-51-23

E-mail: chelyabinsk@myatom.ru  

 

Các Trung tâm Thông tin ở nước ngoài:

 

Mersin (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Thổ Nhĩ Kỳ, Mersin, 33010, Đường Ismet Inionyu, tòa  nhà Nakkash, đơn nguyên hạ  А №134

Tel.: +90 324 2322234

E-mail: office@akkunpp.com

 

Hà Nội (Trung tâm Thông tin về năng lượng hạt nhân)

Việt Nam, Hà Nội, đường Đại Cồ Việt, nhà số 1 (trong khuôn viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội) 

Tel.: +84-4-3623 1721

E-mail: thu.hamanh@hust.edu.vn

Lịch sử ngành công nghiệp hạt nhân của Nga khởi đầu với việc thực hiện “đề án nguyên tử” xô-viết. Điểm xuất phát trong đề án là nghị định mật № 2352ss của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước với tiêu đề “Về công tác tổ chức chế xuất uranium", được ký duyệt ngày 28 tháng Chín năm 1942. Trong văn kiện này, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô được giao nhiệm vụ "khôi phục công tác nghiên cứu thực hiện phương án sử dụng năng lượng nguyên tử bằng con đường phân hạch hạt nhân uranium và đến ngày 01 tháng Tư  năm 1943 đệ trình báo cáo về khả năng chế tạo bom uranium hoặc nhiên liệu uranium".

Cho đến thời điểm đó, đã tích lũy được khối lượng lớn những thông tin tình báo về công việc chế xuất uranium ở Mỹ, và diễn biến các sự kiện phát triển nhanh chóng. Một Ủy ban đặc biệt được thành lập để chỉ đạo toàn bộ công việc trong lĩnh vực khai thác uran và chế tạo bom nguyên tử. Ngày 12 tháng  Tư năm 1943 đã tổ chức Phòng thí nghiệm № 2 trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (ngày nay là Trung tâm Khoa học Nga "Viện Kurchatov"). Đến tháng Hai  năm 1943, Ủy ban Quốc phòng Nhà nước (GKO) ban hành Nghị định số 2872ss đề ngày 11/02/11/43, chuyển Phòng thí nghiệm này về Matxcơva và bổ nhiệm giáo sư I.V. Kurchatov đảm nhận chức trách Giám đốc khoa học lãnh đạo chu trình công tác về uranium.

Sự kiện Mỹ thử nghiệm thành công bom nguyên tử  (vào tháng Bảy năm 1945) đã có tác động thúc đẩy xúc tiến mạnh công tác với uranium ở Nga. Ủy ban Quốc phòng Nhà nước ban hành Nghị định № 9887ss  đề ngày 20/08/45, thành lập Ủy ban đặc biệt gồm những nhân vật hoạt động quốc gia hàng đầu và các chuyên viên khoa học vật lý xuất sắc của đất nước. Quyền lãnh đạo chung được chuyển giao từ ông V.M. Molotov  sang cho ông L.P. Beria. Lập ra Cục I (PGU) trực thuộc Hội đồng Dân ủy Liên Xô, đứng đầu là ông B.L. Vannikov (1887-1962). Trên thực tế, ông đã là nhà lãnh đạo đầu tiên của ngành công nghiệp hạt nhân Nga.

Nhờ những nỗ lực hết sức to lớn của đội ngũ các chuyên viên khoa học, công tác tiến triển với nhịp độ nhanh chóng. Năm 1946, lần đầu tiên trên toàn lục địa Âu-Á, dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ Kurchatov, tại lò phản ứng F-1 đã thực hiện loạt phản ứng dây chuyền tự duy trì phân tách uranium. Những công việc này tạo điều kiện  cho phép hai năm sau đó khởi động lò phản ứng công nghiệp đầu tiên "A" về sản xuất plutonium công suất 100 MW. Lò phản ứng vận hành tại nhà máy liên hợp № 817 (nay là Văn phòng thiết kế "Mayak” ở Ozersk thuộc vùng Chelyabinsk).

Ngày 29 tháng Tám năm 1949 tại thao trường Semipalatinsk đã tiến hành thử nghiệm thành công đầu đạn nguyên tử xô-viết đầu tiên (RDS-1). Như vậy, nhờ tinh thần phấn đấu lao động anh hùng của tập thể các chuyên viên khoa học và sản xuất tập trung làm việc với cường độ cao nhất trong vòng bốn năm (1945-1949), đã tạo điều kiện để Liên bang Xô-viết đạt tới kết quả kỳ vĩ – giữ vị thế cân bằng hạt nhân với Hoa Kỳ.

Lịch sử ngành hạt nhân của Nga tiếp nối không ngừng. Năm 1953 ghi dấu thành công của cuộc thử nghiệm với quả bom nhiệt hạch xô-viết đầu tiên (RDS-6). Năm 1954 là mốc khởi động nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới, được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ Kurchatov ở thành phố Obninsk ngoại ô Matxcơva.  Năm 1955 có sự kiện nổi bật là đưa vào vận hành lò phản ứng  neutron nhanh đầu tiên trên thế giới BR-1 chạy từ  công suất 0, còn một năm sau đó bắt đầu hoạt động của lò phản ứng nhiệt điện BR-2 công suất 100 kW. Đến năm 1957, đã chế tạo xong chiếc tàu ngầm đầu tiên chạy bằng năng lượng hạt nhân  (đề án K-3), và  năm 1959 tàu phá băng “Lenin” được đưa vào vận hành. Đây là chiếc tàu phá băng đầu tiên trên thế giới hoạt động nhờ máy phát điện hạt nhân.